Cảm nhận về văn bản Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh – Văn mẫu lớp 11

Danh mục: Soạn văn , Soạn văn tập 2

Đánh giá bài viết Cảm nhận về văn bản Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn trường THPT chuyên Lê Quý Đôn Bắc Giang Một thời đại trong thi ca là một văn bản phê bình văn học. Bài viết thấm đượm phong cách khoa học và phong cách nghệ thuật. Phím hát khoa học trước hết ở những luận điểm mới me, sâu sắc, phản ánh được bản chất sự vật, luận điểm 1 lại được ...

Cảm nhận về văn bản Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn trường THPT chuyên Lê Quý Đôn Bắc Giang

Một thời đại trong thi ca là một văn bản phê bình văn học. Bài viết thấm đượm phong cách khoa học và phong cách nghệ thuật. Phím hát khoa học trước hết ở những luận điểm mới me, sâu sắc, phản ánh được bản chất sự vật, luận điểm 1 lại được luận giai một cách chặt chẽ, khúc chiết, có sức thuyết phục cao. Phim chất nghệ thuật được bộc lộ ở những cảm xúc thẩm mĩ tinh tế. Cảm xúc  hóa thân thánh giọng điệu tác giả, thành hình ảnh diễn đạt, thành thứ ngôn ngữ vừa cảm xúc vừa hàm -súc, uyển chuyển, gợi cảm, bài viết đã nêu được quan niệm đúng đắn của tác giả về tinh thần thơ mới qua cách luận giải sắc sảo, diễn đạt tài hoa đẩy sức thuyết phục.

Đoạn trích là phần cuối của bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca.Luận điểm bao trùm cả đoạn trích này là vấn đề "tinh thần thơ mới". Đây là luận điểm đặc sắc và kết tinh nhiều tinh hoa văn phê bình của Hoài Thanh. Luận điếm được triển khai thành ba nội dung chính Bởi thứ nhất, ông nêu ra nguyên tắc chung cho việc định nghĩa của mình: Chỉ căn cứ vào "cái hay", không căn cứ vào "cái đó" ; Chỉ căn cứ vào "đại thể", không căn cứ vào "tiếu tiết". Theo quan niệm của Hoài Thanh  (cũng là nguyên tắc phổ biến khi xem xét một hiện tượng văn học), chi có "cái hay", cái "đại thế mới đủ tư cách đại diện cho một thời đại thi ca. "cái dở", cái "tân tiết" không đủ tư cách đại diện cho nghệ thuật và cho một thời đại lớn của nghệ thuật. Hoài Thanh nêu định nghĩa về tinh thần thơ mới bằng cách đối sánh : tinh thần thơ cũ gồm trong chữ "ta" ; tinh thần thơ mới gồm trong chữ "tôi". Nhà phê bình có đề cập đến chỗ giống nhau nhưng hướng trọng tâm vào chỗ khác nhau của hai chữ này. Bước thứ hai, tác giả luận giải về nội dung và biểu hiện của hai chữ "tôi" và "ta”; Chữ "ta" và biểu hiện của chữ "ta" cùng số phận của nó trong thời đại thơ cũ trước kia. Chữ "tôi" và biểu hiện của chữ "tôi" cùng số phận đầy bi kịch của nó trong thời đại thơ mới này.

Qua ba bước trên, người đọc nhận thấy nhà phê bình đã tuân theo trật tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ khái quát đến cụ thể, từ diện mạo (trong không gian) đến diễn biến lịch sử (trong thời gian). Các bước lập luận với trật tự như vậy rất đảm bảo tính lôgíc của tư duy. Vì vậy khả năng thuyết phục rất cao. Đây là một ưu thế của văn nghị luận.

Tinh thần thơ mới gói gọn trong một chữ "tôi". "Cái tôi" của các nhà thấy mới là bàn ngã của mọi con người mà ai cũng có. Nhưng trong những thời kì lịch sử nhất định (đặc biệt là thời trung đại) do hệ tư tưởng chính thống của thời đại khống chế, ép buộc nén cái bán ngã ấy không được bộc lộ, phái giấu kín hoặc triệt tiêu. Nhà thơ phải nói tiếng nói của "cái ta- đạo lí" chung của thời đại. Đó là một nền thơ phi ngã, vô ngã. Chỉ khi nào "cái tôi " ấy được giải phóng thì thi nhân mới có thể nói lên những điều thành thực tự đáy lòng mình. "Cái tôi" đó chính là"khát vọng được thành thực", là sự khẳng định bản ngã của nhà thơ trước cuộc đời, là sự tự ý thức về cá nhân mình trong cuộc sống xã hội. "Cái tôi" ấy bị xã hội phong kiến kiềm cliế trong bao nhiêu thế ki giờ đây trong bối canh mới của thời kì hiện đại, đặc biệt là những năm 30 của thế kỉ XX mới được giải phóng và bùng nổ mãnh liệt. Và khi được giải phóng thì nó sẽ "làm giàu cho thi ca" bằng những cảm xúc mới mẻ và những cách tân nghệ thuật.

Khi luận giải về tư tưởng thơ mới, Hoài Thanh đã dùng cách đối sánh giữa tư tưởng thơ cũ (gồm trong chữ "ta") và tư tưởng thơ mới (gồm trong chữ "tôi"). Cách luận giải về nội dung và biểu hiện của hai chữ "ta" và "tôi" luôn song hành để nêu lên mặt tích cực của cái tôi trong thơ mới : "Cái tôi thơ mới xuất hiện diễn đàn có tính khái quát : "Xã hội Việt Nam tờ xưa không có cá nhân,chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình. 

"Cái tôi thơ mới xuất hiện mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này niệm cá nhân” tức là sự tự ý thức vể bản thân chứ không phải chủ nghĩa cá nhân. Cái tôi với cái nghĩa tuyệt đối của nó làm cho mọi người khó chịu. Nhưng ngày càng mất dần vẻ bỡ ngỡ và được vô số người quen. Sự mới mẻ trong tính  ưu việt của cái tôi- bản ngã được chấp nhận. Còn trong thơ xưa, các thi nhân không một lần dám dùng chữ "tôi" để nói chuyện với mình hay với tất cà mọi người. không tự xưng mà ẩn mình sau chữ "ta".

Cách dẫn dắt của tác giả tự nhiên linh hoạt và độc đáo. Từ thưc tẽ văn chương xưa nay mà thể hiện cái tôi trồi- dạy đòi được khẳng định và phong trào Thơ mới nảy sinh từ sự trỗi dậy cùa "cái tôi" đó.

Khi nói về bi kịch của cái tôi,  tác giả không dùng lí lẽ để diễn đạt . Mạch văn không phải được dẫn dắt bằng ngôn ngữ khái niệm với những phương tiện liên kết của lôgíc hình thức, nặng tính thơ biện ta vẫn quen gặp trong những bài phê bình văn học nghiêng về khoa học thuần túy. Trái lại, ông dẫn dắt ý chủ yếu bằng ngôn ngữ đời sống, nương theo mạch liên kết của cảm’xúc thẩm mĩ. Bới vậy mà tạo được sự rung cảm, đổng cảm ở người dọc. "Cái tôi" của các nhà thơ mới thật đáng thương (Người ta thấy nó đáng thương, Mà thật nó tội nghiệp quá!) vì nó mất đi chỗ dựa tư tưởng, bởi họ là những thi nhân mất nước đang sống trong cuộc đời mòn mỏi, tù túng.  Nghệ thuật tương phản đối lập giữa con đường muốn thoát thân với cái sự thực hiện hữu của cuộc đời đã nêu bật được bi kịch của cái tôi thơ mới. Mỗi cái tôi là một nỗ lực đào sâu trốn chạy vài ý thức cá nhân nhưng càng đi sâu càng bế tắc. Đặc sắc của đoạn văn là những khái quát rất chính xác, súc tích, lại được viết bằng lối văn giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu khiến cho văn phê bình mà đọc lên nghe như thơ. Tác giả sử dụng dạng ngôn ngữ phi khái niệm, dung dị, dễ hiếu mà vẫn súc tích, diễn đạt được bản chất của đối tượng. Độc đáo hơn nữa là tác giả tạo ra hình ảnh một độc gỉa yêu thơ cứ theo buớc chân các nhà thơ tiêu biểu bước vào cõi thơ riêng của mỗi vị.

Chủ đề được triển khai thành hai phần chính: khái quát về hướng tìm tòi, hệ quả chung và điểm qua những gương mặt điển hình cùng lãnh địa cá nhân điển hình của thơ mới để thấy được sự phân hóa đa dạng cùng sự quẩn quanh bế  tác của ý thức cá nhân. Từ đó tác giả đi đến một nhân định : "Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam  xôn xao như thê". Đây là nỗi buồn của một thế hệ thi nhân mất nước mang "cái tôi" cô đơn nhỏ bé trước cách mạng. Điều đó đã làm nên âm hưởng, giọng điệu đặc trưng riêng của thơ mới.

Bi kịch của cái tôi thơ mới là bi kịch không dễ gì giãi quyết được vì họ "thiếu một lòng tin đầy đủ", thiếu một lí tướng sống cho cuộc đời. Trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, các thi nhân chi biết giải quyết bi kịch ấy bằng cách "gửi cả vào tiếng Việt" bởi vì "tiếng Việt, họ nghĩ là tấm lụa hứng vong hổn những thế hệ qua". Như vậy, các thi nhân thơ mới đã tìm thấy một chỗ dựa tin cậy của tư tưởng nòi giống, của các thể thơ xưa, của tiếng Việt,… đế vin vào những điều bất diệt ấy mà đảm báo cho ngày mai. Ba câu vẫn điệp lại một cấu trúc "chưa bao giờ như bây giờ" vừa nhấn mạnh ý vừa thể hiện giọng điệu thiết tha thông cảm khiến cho bài văn nghị luận không khô khan mà thấm đượm tình người- ở dây là tình của người phê bình với các thi nhân thơ mới.

Đoạn trích cũng như toàn bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca là một mẫu mực đẹp đẽ, một thành tựu xuất sắc của Hoài Thanh trong thể nghị luận văn chương thuộc lĩnh vực phê bình, văn học. Đoạn văn đã nêu bật được tư tưởng thơ mới, thể hiện được cách nhìn nhận thơ mới trong bối cảnh lịch sứ và thực tiễn thơ ca một cách đúng đắn, khoa học. Đó cũng là cách nhìn tiến bộ với hình tượng thơ mới 1932- 1941 theo quan điểm lịch sứ xuất phát từ chính con người và hồn thơ của các thi nhân lúc bấy giờ. Cách lí giải của Hoài Thanh đã hơn 60 năm trôi qua mà vẫn rất gần với cách hiểu của chúng ta về thơ mới hôm nay.

Cảm nhận về văn bản Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh – Bài làm 2

I. TÁC GIẢ

Tham gia cách mạng sớm, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành văn hóa – nghệ thuật và có nhiều đóng góp, được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.

Là nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. đã hình thành nên phong cách phê bình văn chương Hoài Thanh, trong đó Thi nhân Việt Nam được đánh giá là công trình xuất sắc nhất trong nhiều công trình có giá trị.

II. TÁC PHẨM: MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA (trích)

Một thời đại trong thi ca là tiểu luận mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam tổng kết một cách sâu sắc phong trào Thơ mới 1932 – 1941. Đoạn trích trong SGK thuộc phần cuối của bài tiếu luận nói trên.

Đoạn cuối này nói về “tinh thần thơ mới”. Nhà phê bình đã không kết hàm súc mà sâu sắc cái “tinh thần thơ mới” trong ý nghĩa văn chương và xã hội – từ ý nghĩa văn chương của thơ mới mà gợi ra ý nghĩa xã hội của hiện tượng thơ mới lúc bấy giờ một cách thấm thía

  1. Cách nhận diện “ tinh thần thơ mới” của tác giả

Trước hết, nhà phê bình nêu lên cái khó trong việc tìm ra “tinh thần của thơ mới”. Theo ông, đó là vì giữa thơ mới và thơ cũ còn có những cái lẫn lộn giao thoa với nhau, vì “hôm nay đã phôi thai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ”.

Từ cái khó đó, Hoài Thanh tự đề ra cho mình cách nhận diện “tinh thần thơ mới” như sau:

+ Vì cái tầm thường, cái lố lăng chẳng phải của riêng một thời nào, nên muốn hiểu tinh thần thơ mới cho đúng đắn, phải sánh bài hay với bài hay.

+ Vì các thời đại vẫn liên tiếp cùng nhau nên muốn rõ đặc sắc mỗi thời phải nhìn vào đại thể.

+ Cái đại thể đó đã được ông khái quát và cô đúc lại trong hai chữ thật gọn rõ mà đúng đắn, sâu sắc như một tiêu chí để phân biệt thơ mới và thơ cũ:

“Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa – hay thơ cũ – và thời nay – hay thơ mới – có thể gom lại trong hai chữ tôi và ta. Ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là thời chữ tôi. Nói giống nhau thì vẫn có chỗ giống nhau như chữ tôi vẫn giống chữ ta. Nhưng chúng ta hãy tìm những chỗ khác nhau.”

  1. Điều cốt lõi mà thơ mới đã đưa đến cho thi đàn Việt Nam lúc bấy giờ.

Nội dung cốt yếu của “tinh thần thơ mới” chính là: lần đầu tiên chữ tôi với cái nghĩa tuyệt đối của nó xuất hiện giữa thi đàn Việt Nam, mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân (tức là sự tự ý thức về bản thân mình chứ không phải là chủ nghĩa cá nhân). Đó là bản ngã của nhà thơ trước cuộc đời, từ đó mà có “cái tôi cảm xúc” trong tác phẩm. “Cái tôi” ấy đã bị xã hội phong kiến kiềm chế trong bao nhiêu thế kỉ, giờ đây trong một bối cảnh lịch sử mới của thời hiện đại, đặc biệt là vào những năm 30 của thế kỉ XX, mới có điều kiện để giải phóng và bùng nổ mãnh liệt. Và khi đã được giải phóng thì nó sẽ “làm giàu cho thi ca” bằng những cảm xúc mới mẻ và những cách tân nghệ thuật, đem lại gương mặt mới cho thơ mới lúc bấy giờ. Đó là mặt tích cực của “cái tôi” đã thúc đẩy thơ mới phát triển mạnh mẽ làm nên một thời đại trong thi ca với những thành tựu rực rỡ chưa từng có ở giai đoạn 1932 – 1941.

  1. Bi kịch của “ cái tôi” trong thơ mới

Hoài Thanh, bằng cảm nhận tinh tế, và bằng cả tấm lòng của mình đối với các nhà thơ mới đã nhận ra sâu sắc và thấm thía bi kịch của “cái tôi” đó khi ông viết: “Người ta lại còn thấy nó đáng thương. Mà thật nó tội nghiệp quár, và nêu lên những biểu hiện:

Thi nhân ta cơ hồ đã mất hết cái cốt cách hiên ngang ngày trước.

Đến chút lòng tự  trọng cần để khinh cảnh cơ hàn, họ cũng không có nữa

Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt,

Cơm áo không đùa với khách tha.

(Xuân Diệu)

Nhưng ông không trách Xuân Diệu mà cho rằng “Xuân Diệu, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại, chỉ nói cái khổ sở, cái thảm hại của hết thảy chúng ta”. Vậy là từ ý nghĩa văn chương của thơ mới, nhà phê bình đã gợi lên cái ý nghĩa xã hội của cuộc đời “hết thảy chúng ta” – cái bi kịch của lớp người trẻ lúc bấy giờ.

Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam (tức thơ mới lúc bấy giờ) buồn và nhất là xôn xao như thế. Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thời trước (Đọc kĩ và suy nghĩ về đoạn văn: “Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi cùng Huy Cận”).

“Cái tôi” của các nhà thơ mới thật đáng thương và tội nghiệp, vì nó đem đến cho tâm hồn họ nỗi buồn lạnh và bơ vơ, muốn thoát đi đâu cũng không được. Bởi họ là những thi nhân mất nước đang sống trong cuộc đời mòn mỏi, tù túng lúc bấy giờ, lại mang trong mình “cái tôi” cô đơn, bé nhỏ của các thi sĩ lãng mạn. Đoạn văn “Đời chúng ta., cùng Huy Cận” của ông đã nêu rõ cái bi kịch đó một cách thấm thìa:

  • Thoát lên tiên                      > < – Động tiên đã khép

  • Phiêu lưu trong trường tình > < – Tình yêu không bền

  • Điên cuồng                          > < – Điên cuồng rồi tỉnh

  • Đắm say                              > < – Say đắm vẫn bơ vơ

Bi kịch đó đã tạo nên một âm hưởng buồn, mang giọng điệu đặc trưng của thơ mới giai đoạn này.

  1. Hướng giải tỏa bi kịch của các nhà thơ mới cũng như “người thanh niên” lúc bấy giờ

“Cái tôi” đáng thương và tội nghiệp trong thơ mới không chỉ là bi kịch của các nhà thơ lãng mạn mà nó còn phản ánh tâm lí thời đại, nói lên bi kịch của lớp người trẻ đương thời, như Hoài Thanh đã viết:

“Đó, tất cả cái bi kịch đương diễn ngấm ngầm, dưới những phù hiệu dễ dài trong hồn người thanh niên”.

Bi kịch ấy họ đã giải tỏa bằng cách nào? Trong hoàn cảnh mất nước lúc đi. họ phải vịn vào những cái gì có thể vịn được. Nhà phẽ bình thật dã tinh tế dể nhận ra đúng đắn cái mà họ đang cần tìm đến như một nhu cầu tha thiết cu cuộc sống, của tâm hồn: “bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu qui hương trong tình yêu tiếng Việt”. Với họ, lúc bấy giờ, lông yêu nước còn có cách thể hiện nào khác ngoài tình yêu tiếng Việt? Nó có một cái gì còn chông chênh khi họ chưa nhập cuộc vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng cũng thật cảm động và đáng ghi nhận. Tâm lí ấy, nhu cầu ấy đã đưa họ đến với tiếng Việt và thơ mới như một điều tất yếu vậy. Riêng các nhà thơ mới, tiếng Việt là phương tiện để họ gửi gắm nỗi lòng, giải tỏa phần Nào cái bi kịch của đời mình. “Họ cũng muốn mượn tâm hồn bạch chung để gửi nồi băn khoăn riêng”. Và họ đã tìm thấy một chỗ dựa tin cậy của tinh thần nòi giống, của các thể thơ xưa, của tiếng Việt,… đế vịn vào những điều bất diệt ấy mà bảo đảm cho ngày mai. Và tác giả bài viết cũng mang trong lòng một niềm tin như thế.

  1. Nghệ thuật viết phê bình văn học (nghị luận văn học) của Hoài Thanh

Hoài Thanh là nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Ông đã hình thành cho mình một phong cách nghị luận văn chương riêng: chặt chẽ mà rõ ràng, trong sáng, khúc chiết dễ hiểu với cách viết giàu hình ảnh, cảm xúc, trải nghiệm; lối viết tài hoa, tinh tế, có nhiều phát hiện, thú vị, giàu chất thơ,… khiến bài viết luôn hấp dẫn mọi đối tượng độc giả. Có những vấn đề phức tạp, khó hiểu, nhưng dưới ngòi bút của ông trở nên dễ hiểu, thú vị và thấm sâu trong người đọc.

Ở đoạn trích này cũng vậy. Có thể thấy một số điểm nổi bật về nghệ thuật nghị luận văn chương như sau:

Đặt vấn đề rõ, gọn (chỉ một câu).

Dẫn dắt vấn đề khoa học, khéo léo và dễ hiểu, đảm bảo sự liền mạch trong hệ thống luận điểm, luận cứ, sự liên kết, chuyển tiếp giữa các ý, các đoạn trong bài một cách thống nhất.

Lời văn giàu hình ảnh và chất thơ, vừa khái quát, cô đúc về ý, vừa giàu hình ảnh, lại cân xứng, nhịp nhàng tạo nên một nhạc điệu “rất thơ”; ngôn ngữ chính xác, tinh tế, gợi cảm – một đoạn văn mang phong cách Hoài Thanh rất đậm, không thể nào lẫn được: “Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi… Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình của Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.

Giọng điệu có tình của người viết, thiết tha, thông cảm, thấu hiểu nỗi lòng của các nhà thơ mới, trân trọng ghi nhận những điều tốt đẹp của họ và đặt niềm tin vào họ cũng như vào phong trào Thơ mới lúc bấy giờ. Cái giọng điệu này góp phần tạo nên sức hấp dẫn của bài nghị luận văn chương.

Các bài nên tham khảo

Soạn bài luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả

Soạn bài luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả Câu 1. a. Kiều phương là người có tài năng về hội họa, rất hồn nhiên và nhân ...

Soạn bài quan sát, tượng tượng, so sánh và nhận xét trong văn bản miêu tả

Soạn bài quan sát, tượng tượng, so sánh và nhận xét trong văn bản miêu tả I. 1. Đọc các văn bản 2. Trả lời câu hỏi. a. Đặc điểm nổi bật của Đoạn 1: Nhân vật Dế ...

Hãy tưởng tượng và tả lại một nhân vật trong truyện em đã đọc

Đề bài: Hãy tưởng tượng và tả lại một nhân vật trong truyện em đã đọc. Tham khảo bài làm của bạn Hoàng Anh Phúc Từ bé em đã được mẹ kể cho em nhiều câu chuyện ...

Soạn bài kể chuyện tưởng tượng

Soạn bài kể chuyện tưởng tượng I. Tìm hiểu chung về kể chuyện tưởng tượng. 1. Mọi người đang sống hoàn thuận, một hôm Mắt than với cậu Chân, cậu Tay rằng: Bác ...

Soạn bài luyện tập kể chuyện tưởng tượng

Soạn bài luyện tập kể chuyện tưởng tượng I. Mục đích yêu cầu - Tập giải quyết một số đề bài tưởng tượng sáng tạo. - Chú trọng khâu học sinh có thể tự làm dàn ...

Những Bài Văn Kể Chuyện Tưởng Tưởng Lớp 6

Học Tốt Ngữ Văn tổng hợp những bài văn hay về chủ đề tưởng tưởng trong chương trình văn học lớp 6. Bộ bài văn này sẽ giúp bạn có tài liệu tham khảo, ngoài ra nó ...

Hãy tưởng tượng mười năm sau em về thăm trường cũ

Về thăm trường cũ với biết bao cảm xúc vui buồn lẫn lộn. Nhưng đối với những đã ra trường v

Soạn bài đặc điểm loại hình của tiếng việt

Soạn bài đặc điểm loại hình của tiếng việt I. Kiến thức cơ bản Qua bài các em cần hiểu được; Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập với các đặc điểm nổi ...

Soạn bài tóm tắt tiểu sử

Soạn bài tóm tắt tiểu sử Những điều lưu ý. 1. Yêu cầu. - Văn bản tóm tắt tiểu sự cần chính xác, chân thực, ngắn gọn, nhưng phải nêu được những nét tiêu biểu về ...

Soạn bài tương tư

Soạn bài tương tư của Nguyễn Bính I. Vài nét về bài thơ Câu 1. Tìm hiểu thêm hoàn cảnh sáng tác bài thơ: - Nhà văn Tô Hoài kể rằng khi mới quen Nguyễn Bính, ông ...

Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ